Tại sao tiểu cầu giảm trong sốt xuất huyết?

vung-da-xuat-huyet-tai-sao-tieu-cau-lai-giam-trong-sot-xuat-huyet-trao-giai-phao-chubb-life

1. Khái niệm sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra virus Dengue gây nên. Bệnh lây theo đường máu bởi trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes Aegypti. Bệnh có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn, kèm theo xuất huyết ở da hoặc niêm mạc và giảm tiểu cầu ở trong máu. Trong đó giảm tiểu cầu trong máu là biến chứng nguy hiểm nhất. Tiểu cầu là một tế bào nhỏ nhất trong tất cả các tế bào máu. Khi xem trên kính hiển vi, tiểu cầu là những đốm màu tím sẫm có đường kính chỉ bằng 20% hồng cầu. Tiểu cầu có đường kính xấp xỉ khoảng 2μm (dao động từ 1.2 – 2.3 μm) đường kính lớn nhất có thể lên đến 3μm.

Số lượng tiểu cầu quá thấp có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

2. Diễn tiến của bệnh sốt xuất huyết

Bệnh sốt xuất huyết Dengue có những diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Giai đoạn sốt:

  • Bệnh nhân sốt cao đột ngột, liên tục.
  • Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.
  • Da xung huyết.
  • Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.
  • Nghiệm pháp dây thắt dương tính.
  • Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.

Giai đoạn nguy hiểm, thường rơi vào ngày thứ 3-7 của bệnh:

Lâm sàng: Người bệnh có thể vẫn sốt hoặc đã giảm sốt và có các biểu hiện sau:

  • Thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24 – 48 giờ), tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau. Trong trường hợp thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 25 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít.
  • Xuất huyết:
    • Xuất huyết dưới da: Các nốt xuất huyết nằm rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím.
    • Xuất huyết ở niêm mạc: Dẫn đến tình trạng chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn. Xuất huyết ở nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.
  • Trong trường hợp nặng có thể xuất hiện biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc.

Giai đoạn hồi phục:

Lâm sàng: Sau từ 24 – 48 giờ của giai đoạn nguy hiểm, bắt đầu có hiện tượng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch. Giai đoạn này kéo dài từ 48 – 72 giờ. Khi người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều, có thể có nhịp tim chậm và thay đổi về điện tâm đồ. Trong giai đoạn này, nếu truyền dịch quá mức có thể sẽ bị gây ra phù phổi hoặc suy tim.

Sốt xuất huyết có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng, trong đó có giảm tiểu cầu. Bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu là một loại bệnh lý miễn dịch. Các kháng thể chống lại tiểu cầu làm tiểu cầu bị phá hủy ở lách, hậu quả là giảm số lượng tiểu cầu trong máu, cơ thể sẽ dễ bị chảy máu với một tác động nhẹ.

1. Tiểu cầu giảm trong sốt xuất huyết nghĩa là gì?

Theo WHO ( World Health Organization), giảm tiểu cầu được xem là một tiêu chí đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh. Giảm tiểu cầu được định nghĩa như sự suy giảm nhanh chóng số lượng tiểu cầu hoặc số lượng tiểu cầu dưới 150.000/mm3 (< 150 G/L).

Tiểu cầu là các tế bào máu nhỏ được sản xuất trong tủy xương. Tiểu cầu giảm trong sốt xuất huyết có nghĩa là mất khả năng đông máu và không thể chống lại các nhiễm trùng.

2. Tại sao tiểu cầu lại giảm trong sốt xuất huyết?

Số lượng tiểu cầu giảm sẽ ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, điều này xảy ra do:

  • Số lượng tiểu cầu trong sốt xuất huyết giảm khi nó ức chế tủy xương (là khu vực sản xuất tiểu cầu).
  • Số lượng tiểu cầu trong sốt xuất huyết giảm vì các tế bào máu bị ảnh hưởng bởi virus gây tổn thương tiểu cầu.
  • Các kháng thể được tạo ra trong giai đoạn này đã phá hủy một số lượng lớn tiểu cầu trong thời gian người bệnh bị sốt xuất huyết.

3. Tiểu cầu giảm vào thời điểm nào trong sốt xuất huyết?

Số lượng tiểu cầu thường giảm đáng kể vào ngày thứ 4 của bệnh. Ở người trưởng thành không bị sốc do sốt xuất huyết, số lượng tiểu cầu giảm nhẹ đến vừa từ ngày thứ 3 cho đến ngày thứ 7 của bệnh và trở lại mức bình thường vào ngày thứ 8 hoặc thứ 9. Ở trẻ nhỏ, có rất ít mối tương quan giữa số lượng tiểu cầu và biểu hiện chảy máu hoặc số lượng tiểu cầu và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Số lượng tiểu cầu thường giảm đáng kể vào ngày thứ 4 của bệnh
Số lượng tiểu cầu thường giảm đáng kể vào ngày thứ 4 của bệnh

Các triệu chứng của sốt xuất huyết giảm tiểu cầu bao gồm:

  • Chảy máu da nghiêm trọng với những đốm máu trên da (petechiae) và những mảng máu lớn dưới da (ecchymoses)
  • Phân đen
  • Máu trong nước tiểu (tiểu máu)
  • Rò rỉ huyết tương nặng
  • Suy hô hấp
  • Suy gan, tim và / hoặc các cơ quan khác
  • Thay đổi trạng thái tinh thần với ý thức suy yếu
  • Bệnh nhân phát triển các dấu hiệu cảnh báo (đặc biệt là thờ ơ và nôn mửa liên tục) và những người có số lượng tiểu cầu thấp và hematocrit cao (số lượng hồng cầu tăng cao) có nguy cơ rất cao xảy ra biến chứng suy nội tạng hoặc thậm chí tử vong.

4. Sốt xuất huyết giảm tiểu cầu ảnh hưởng gì đến sức khỏe?

Với bệnh cảnh bình thường, bệnh nhân sẽ có cơn sốt kéo dài kèm theo các triệu chứng đau đầu, nhức mỏi, nôn mửa ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động.

Nếu bệnh nhân bị sốt xuất huyết nặng giảm tiểu cầu, sẽ có những đốm chảy máu trên da, các bộ phận khác trên cơ thể và thoát huyết tương. Sốt xuất huyết nặng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến phổi, gan hoặc tim. Huyết áp có thể giảm xuống mức nguy hiểm, gây sốc, trong một số trường hợp có thể gây tử vong.

5. Khi nào bệnh nhân được chỉ định truyền tiểu cầu?

Để xác định chẩn đoán, bác sĩ sẽ đưa ra một số xét nghiệm bao gồm xét nghiệm tìm kháng thể IgG và IgM, xét nghiệm PCR để kiểm tra virus và công thức máu. Không có một giới hạn cụ thể nào trong việc đưa ra chỉ định truyền tiểu cầu. Ở người già và những người mắc bệnh mãn tính khác, truyền tiểu cầu vẫn có thể yêu cầu ngay cả khi bạch cầu phản ứng quá mức (hơn 50.000 tế bào bạch cầu trên 1 cm3) . Bác sĩ sẽ quyết định dựa trên sức khỏe của bệnh nhân. Điều tốt nhất mà bệnh nhân nên làm là thảo luận với bác sĩ về tình trạng bệnh hiện tại của bạn.

6. Làm cách nào để nhanh khỏi bệnh sốt xuất huyết?

Các thực phẩm giàu omega-3, vitamin, sắt và các khoáng chất khác giúp chống lại các kháng thể và cũng làm tăng số lượng tiểu cầu
Các thực phẩm giàu omega-3, vitamin, sắt và các khoáng chất khác giúp chống lại các kháng thể và cũng làm tăng số lượng tiểu cầu

Các thực phẩm giàu omega-3, vitamin, sắt và các khoáng chất khác giúp chống lại các kháng thể và cũng làm tăng số lượng tiểu cầu. Bạn cũng có thể tiêu thụ các loại trái cây như đu đủ, kiwi, cam, quả mọng … để giúp tăng số lượng tiểu cầu.

Vitamin B-12: Vitamin này giúp giữ cho các tế bào máu khỏe mạnh. Thiếu B-12 có liên quan đến tiểu cầu thấp trong sốt xuất huyết. Có những thực phẩm này để tăng tiểu cầu: Gan bò, Sò, Trứng, Sản phẩm sữa…

Sắt: Sắt giúp sản xuất các tế bào máu khỏe mạnh. Bạn có thể tiêu thụ những thực phẩm có chứa chất sắt rất quan trọng đối với sức khỏe và số lượng tiểu cầu trong sốt xuất huyết: Con trai sông, Hạt bí ngô, Đậu lăng, Thịt bò…

Vitamin C: đóng một vai trò quan trọng giúp tiểu cầu hoạt động hiệu quả. Nó cũng giúp hấp thụ sắt giúp tăng số lượng tiểu cầu trong sốt xuất huyết. Nguồn vitamin C tốt bao gồm: Xoài, Trái dứa, Bông cải xanh, Ớt chuông xanh hoặc đỏ, Cà chua, Súp lơ…

Nguồn: VINMEC

+ Vì sao khi bị sốt xuất huyết, tiểu cầu lại giảm? 

+ Sốt xuất huyết tiểu cầu giảm thế nào?